Từ những chủ trương mới đến thực tế triển khai, việc hoàn thiện cơ chế thực thi được xem là yếu tố then chốt để y tế tư nhân phát huy vai trò trong hệ thống y tế Việt Nam.
Tại Diễn đàn Phát triển y tế tư nhân Việt Nam, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng trong phát triển y tế tư nhân.

Theo ông Tuấn, các nghị quyết mới đã mở ra dư địa chính sách đáng kể. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương và dòng vốn đầu tư vẫn phụ thuộc rất lớn vào các quy định cụ thể, khả thi và ổn định.
Một trong những vấn đề được đặt ra là mục tiêu phát triển y tế tư nhân chưa đạt như kỳ vọng. Nghị quyết 20-NQ/TW năm 2017 từng đặt mục tiêu tỷ lệ giường bệnh tư nhân đạt 10% vào năm 2025. Tuy nhiên, khi thời hạn này đã đi qua, khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế vẫn còn đáng kể.
Từ thực tế đó, ông Tuấn cho rằng vấn đề không nằm ở việc thiếu chủ trương hay quyết tâm chính trị, mà chủ yếu nằm ở cơ chế thực thi.
Điểm đáng chú ý là hệ thống chính sách gần đây đã có những thay đổi theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khu vực tư nhân. Nghị quyết 66 nhấn mạnh việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, hạn chế tư duy “không quản được thì cấm”, đồng thời yêu cầu không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự phù hợp với bản chất của chúng.
Trong khi đó, Nghị quyết 68 xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng, đặt ra yêu cầu không phân biệt đối xử trong tiếp cận vốn, đất đai, nhân lực và dữ liệu. Nghị quyết 72 tiếp tục tạo dư địa chính sách cho y tế tư nhân thông qua các cơ chế ưu đãi về đất đai, thuế và khai thác cơ sở nhà nước dôi dư.
Tuy nhiên, theo phân tích tại diễn đàn, một quyền được luật xác lập hoàn toàn có thể bị hạn chế bởi những quy định ở tầng văn bản hướng dẫn. Chẳng hạn, hoạt động khám bệnh, chữa bệnh đã được Luật Đầu tư ghi nhận trong nhóm ngành nghề ưu đãi đầu tư, nhưng danh mục tại văn bản hướng dẫn có thể chưa thể hiện đầy đủ, rõ ràng hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở khám chữa bệnh.
Hệ quả là cùng một loại dự án có thể được xử lý khác nhau giữa các địa phương, làm phát sinh thêm thủ tục và kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhà đầu tư khó dự đoán chi phí, tiến độ và hiệu quả dự án.
Một bài toán khác được ông Tuấn chỉ ra là thị trường đầu ra của y tế tư nhân. Khi bảo hiểm y tế hướng tới bao phủ rộng hơn, ngân sách và quỹ bảo hiểm có xu hướng đảm bảo các dịch vụ y tế cơ bản, trong khi người dân chi trả cho phần vượt mức, cấu trúc thị trường y tế cũng sẽ thay đổi.
Theo đó, y tế tư nhân cần có vị trí rõ ràng trong cả ba tầng chi trả: dịch vụ cơ bản từ ngân sách và bảo hiểm y tế; phần vượt mức do người dân chi trả; và các sản phẩm bảo hiểm bổ sung, bảo hiểm sức khỏe thương mại.
Điểm nghẽn hiện nay là cơ chế hợp đồng, thanh toán và xác định mức dịch vụ giữa khu vực công và tư chưa thực sự trung lập về sở hữu. Nếu khu vực tư không tham gia được vào hệ thống chi trả công, quy mô thị trường có thể bị thu hẹp trong bối cảnh thị trường chi trả trực tiếp từ tiền túi người dân giảm dần.
Bên cạnh đó là bài toán cạnh tranh. Đầu tư công cho y tế là cần thiết, song cần đánh giá tác động cạnh tranh khi mở rộng khu vực công. Theo phân tích, cơ sở công lập có những lợi thế về đất đai, chi phí vốn, thuế và ngân sách mà cơ sở tư nhân không dễ tiếp cận. Vì vậy, việc quy hoạch mạng lưới y tế cần tính tới sự cân bằng giữa hai khu vực.
Nguồn nhân lực cũng là một nút thắt lớn. Trong khi khu vực công được tăng cường chính sách tiền lương, phụ cấp và đào tạo, bệnh viện tư vẫn gặp khó trong việc được công nhận là cơ sở thực hành, tham gia đào tạo chuyên sâu và sử dụng linh hoạt nguồn nhân lực y tế.
Một vấn đề khác là vốn. Với thời gian hoàn vốn của một dự án bệnh viện có thể kéo dài 8-12 năm, trong khi kỳ hạn tín dụng phổ biến ngắn hơn đáng kể, các dự án y tế tư nhân phải đối mặt với sự lệch pha về kỳ hạn. Đáng chú ý, nhiều thủ tục liên quan đến đất đai, ưu đãi và xác nhận điều kiện có thể tạo ra vòng lặp khiến dự án chậm triển khai.
Từ những điểm nghẽn trên, giải pháp được đặt ra là xây dựng một môi trường thể chế theo ba nguyên tắc: trung lập về sở hữu; tiền đi theo người bệnh; tăng cường hậu kiểm và thử nghiệm có kiểm soát.
Cùng với đó, cần sửa các quy định về ngành nghề ưu đãi đầu tư, thống nhất cách xác nhận điều kiện miễn, giảm tiền thuê đất, làm rõ chính sách thuế và nguyên tắc chuyển tiếp, đồng thời thay đổi cách đánh giá xã hội hóa y tế theo hướng chú trọng chất lượng và kết quả đầu ra.
Với doanh nghiệp, thay vì chỉ chờ cơ chế, một hướng đi được khuyến nghị là chủ động chuẩn hóa quản trị, minh bạch tài chính, kiểm toán độc lập và nâng cao năng lực tuân thủ. Các hiệp hội cũng cần tăng cường bộ phận pháp chế, thường xuyên góp ý chính sách dựa trên dữ liệu thực tế.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, y tế tư nhân cũng cần định vị vào những khoảng trống mà khu vực công chưa phủ đầy như lão khoa, chăm sóc người cao tuổi, chăm sóc dài hạn, phục hồi chức năng, khám sàng lọc và du lịch chữa bệnh.
Thông điệp xuyên suốt được đưa ra là y tế tư nhân cần được nhìn nhận như một bộ phận của hệ thống y tế quốc gia, thay vì chỉ là phần bổ sung cho khu vực công. Khi cơ chế chi trả, thị trường nhân lực, hạ tầng dữ liệu và chuẩn mực pháp lý được vận hành thống nhất, dòng vốn tư nhân mới có thể được khơi thông, qua đó tạo thêm nguồn lực cho mục tiêu nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân.





