Từ hạ tầng, logistics đến công nghệ, nhân lực và chuỗi cung ứng, cộng đồng doanh nghiệp phía Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ “liên kết để cùng hiện diện” sang hợp tác để tạo ra giá trị thực. Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 đặt trọng tâm vào việc biến lợi thế riêng của từng địa phương thành năng lực cạnh tranh chung của toàn vùng.
Chiều 21/8, tại TP. Hồ Chí Minh, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam tổ chức Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 – Vòng bàn tròn kết nối nội lực cấp miền, phiên bàn tròn khu vực phía Nam. Không chỉ là nơi tiếp nhận các kiến nghị của doanh nghiệp, diễn đàn lần này hướng đến một cách tiếp cận rộng hơn: nhận diện những vấn đề đã vượt khỏi ranh giới hành chính và tìm kiếm các giải pháp có khả năng triển khai trên quy mô liên vùng.

Điểm đáng chú ý của phiên thảo luận là câu chuyện liên kết vùng không còn được nhìn đơn thuần dưới góc độ xây thêm đường, mở rộng cảng hay kết nối giao thông. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng dựa nhiều vào tốc độ, công nghệ và khả năng tham gia chuỗi giá trị, điều doanh nghiệp cần là một hệ sinh thái đủ liền mạch từ vùng nguyên liệu, sản xuất, logistics đến phân phối và thị trường.
Ông Đặng Hồng Anh, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, cho rằng phía Nam đang sở hữu nhiều lợi thế về hạ tầng, công nghiệp, cảng biển, cửa khẩu, vùng nguyên liệu, thị trường và cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, giá trị lớn hơn nằm ở khả năng tổ chức những nguồn lực này thành năng suất và sức cạnh tranh thực sự. Theo hướng đó, hợp lực công – tư cần được nhìn như một quá trình phân công rõ vai trò: khu vực công tạo nền tảng, hoàn thiện hạ tầng và môi trường kinh doanh; doanh nghiệp tham gia đầu tư, vận hành, đổi mới; còn hiệu quả phải được phản ánh bằng sự lớn lên của doanh nghiệp và giá trị gia tăng tạo ra.

Từ các phiên đối thoại tại Tây Ninh, An Giang, Cà Mau và Đồng Nai, Ban tổ chức đã tổng hợp 121 ý kiến, kiến nghị, đề xuất và nhóm sáng kiến. Trong số này, 24,8% nội dung đã được giải quyết, làm rõ hoặc định hướng ngay tại phiên; 45,4% được tiếp thu để tiếp tục xử lý ở địa phương, trong khi gần 30% cần chuyển lên các vòng đối thoại hoặc cấp có thẩm quyền cao hơn. Những con số này cho thấy nhiều điểm nghẽn của doanh nghiệp hiện nay có tính liên vùng và không thể giải quyết riêng lẻ.
Bảy nhóm vấn đề xuyên suốt được đặt ra gồm thể chế và khả năng tiếp cận thông tin, hạ tầng – logistics, mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi giá trị, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, nguồn nhân lực, năng lực quản trị và khả năng tiếp cận vốn.
Từ đó, phiên bàn tròn tập trung vào năm bài toán lớn. Đó là xây dựng dữ liệu và cơ chế xử lý kiến nghị; tổ chức hạ tầng logistics theo chuỗi hàng hóa; phát triển mạng lưới nhà cung ứng và liên kết thị trường; nâng cấp doanh nghiệp nhỏ và vừa về công nghệ, tiêu chuẩn, chuyển đổi xanh và nguồn vốn; đồng thời tăng cường liên kết về nhân lực, kỹ năng và quản trị. Điểm chung của các đề xuất là phải thay đổi cách đo lường hiệu quả: không chỉ có bao nhiêu cuộc gặp hay biên bản ghi nhớ, mà phải xem doanh nghiệp có thêm đơn hàng, nâng được tiêu chuẩn và tạo ra giá trị mới hay không.
Từ An Giang, yêu cầu này được thể hiện khá rõ. Một sản phẩm có thể bắt đầu từ vùng nguyên liệu ở Đồng bằng sông Cửu Long, sử dụng công nghệ và dịch vụ tại TP. Hồ Chí Minh, đi qua hệ thống logistics liên tỉnh rồi tiếp cận thị trường trong nước hoặc quốc tế. Nếu mỗi khâu vẫn vận hành tách biệt theo địa giới hành chính, lợi thế của từng địa phương khó chuyển thành sức mạnh của cả vùng.
Do đó, đại diện An Giang đề xuất thử nghiệm mô hình phát triển nhà cung ứng liên vùng dựa trên đơn hàng thực tế, trong đó doanh nghiệp đầu chuỗi đóng vai trò dẫn dắt, Nhà nước tạo điều kiện và doanh nghiệp nhỏ, vừa tham gia vào chuỗi cung ứng. Hạ tầng sản xuất, kiểm nghiệm, kho lạnh và các dịch vụ dùng chung cũng được đặt trong yêu cầu phát triển theo ngành hàng thay vì chỉ theo địa giới.
Ở Đông Nam Bộ, Đồng Nai mang đến một góc nhìn khác nhưng cùng hướng đến mục tiêu nâng chất lượng tăng trưởng. Trong 6 tháng đầu năm 2026, GRDP của địa phương đạt trên 359,7 nghìn tỷ đồng, tăng 9,81%; công nghiệp – xây dựng tăng 11,84% và vốn đầu tư ngoài nhà nước tăng 15,73%. Tuy vậy, quy mô kinh tế tăng lên chưa đồng nghĩa tất cả doanh nghiệp đã nâng được năng lực nội tại, khi nhóm công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo vẫn đối mặt với sức ép về vốn, công nghệ và lao động kỹ thuật cao.
Các dự án hạ tầng lớn như Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Cảng Phước An, cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu cùng các tuyến Vành đai 3, Vành đai 4 được kỳ vọng tạo thêm động lực cho khu vực. Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng không chỉ nằm ở quy mô công trình mà ở khả năng giảm thời gian vận chuyển, hạ chi phí logistics và tăng độ ổn định của chuỗi cung ứng.
Tương tự, dòng vốn FDI chỉ tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh hơn khi doanh nghiệp Việt Nam có thể tiến lên những công đoạn có giá trị cao, thay vì chỉ dừng ở gia công hoặc cung ứng đơn giản. Vì vậy, Đồng Nai đề xuất chuyển từ xúc tiến kết nối doanh nghiệp sang phát triển nhà cung ứng, với quy trình hỗ trợ xuyên suốt từ đánh giá năng lực, cải tiến công nghệ, đáp ứng tiêu chuẩn đến kết nối đơn hàng và theo dõi kết quả.
Bức tranh chung của phía Nam vì thế hiện lên như một hệ sinh thái có tính bổ trợ cao. TP. Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm tài chính, thương mại, công nghệ và thị trường; Đồng Nai có thế mạnh về công nghiệp chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics; Tây Ninh sở hữu lợi thế cửa ngõ thương mại xuyên biên giới; trong khi Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nguyên liệu quan trọng về nông nghiệp, thủy sản, năng lượng và kinh tế biển. Nếu các lợi thế này được kết nối thành một chuỗi thống nhất, liên kết vùng sẽ không còn là khẩu hiệu mà trở thành một phương thức tạo ra năng lực cạnh tranh mới.
Tại diễn đàn, Hội Doanh nhân trẻ TP. Hồ Chí Minh cũng ký biên bản ghi nhớ hợp tác với Hoa Sen Home, Tasco Auto và Ngân hàng Số Vikki, mở thêm các kênh kết nối nguồn lực cho cộng đồng doanh nghiệp.
Những kiến nghị được đưa ra tại phiên bàn tròn phía Nam sẽ tiếp tục được tổng hợp để phục vụ Phiên Toàn thể Cấp cao VPSF 2026. Mục tiêu sau cùng không chỉ là tháo gỡ từng điểm nghẽn, mà là thiết lập một cách thức liên kết mới, trong đó hạ tầng đi cùng chuỗi giá trị, chính sách đi cùng kết quả và đối thoại đi cùng trách nhiệm thực thi.
Với cách tiếp cận đó, bài toán của kinh tế tư nhân phía Nam không chỉ là làm sao để doanh nghiệp tồn tại trong một thị trường rộng lớn, mà là làm sao để nhiều doanh nghiệp cùng lớn lên trong một hệ sinh thái có khả năng tạo ra giá trị cao hơn. Khi mỗi địa phương đóng góp đúng thế mạnh và các mắt xích được nối thành một chuỗi hoàn chỉnh, nội lực của từng nơi sẽ có cơ hội trở thành sức bật chung của cả vùng.
Quốc Thái






